Phương Trời Bách Việt - H 17

Phương Trời Bách Việt
Chương Mười Bảy
Huỳnh Tâm

Viên Sỏi Hán Nằm Bên Lề Giang Nam

Vừa xoay thân mình qua trái, Hoàng Phi Bằng thấy điệt nữ Mẫn Trâm miệng đang cười muốn nói lời gì đó, chàng liền nói trước :

― Mẫn Trâm điệt nhi, con là đệ tử nhỏ nhất của Thúc Bá, tuy tính táo bạo, mà lòng suy tưởng rất đơn thuần, từ nay mọi khi hành động phải cẩn thận vì giang hồ là cõi hiểm ác, lòng người không lộ càng hiểm ác hơn, chuyện đời không đơn giản như tính tình của điệt nhi, việc gì cũng phải suy nghĩ từ hai mặt.

Thúc Bá tặng cho con Nhật Nguyệt bảo kiếm, chỗ kỳ diệu của nó ngày sau ắt điệt nhi sẽ lãnh ngộ, phải biết quý nó nhé, Thúc Bá biết tâm kết lớn nhất của đời điệt nhi là văn võ, nay Thúc Bá tặng hai tập phổ Sử ký thư và Binh pháp hãy đem theo bên mình từ từ luyện, về sau phải độc sách cho nhiều như Khải gia gia của điệt nhi vậy, viết chữ cũng nhiều thì văn hay chữ tốt nhé ?

Đào Trần Mẫn Trâm cúi đầu nghi lễ thưa :

― Điệt nhi đa tạ Thúc Bá ban ân tứ Nhật Nguyệt bảo kiếm, từ nay mọi việc làm vân lời chỉ bảo của Thúc Bá, nhất là hầu hạ hiếu thảo Khải gia gia.

Buổi tặng kiếm kết túc, tất cả huynh, tỷ, đệ, muội về động trên, chỉ còn lại huynh đệ họ Hoàng. Hôm nay Hoàng Phi Bằng cao hứng tặng kiếm không vì ngẫu nhiên, phải có nguyên ủy của nó và thấy một thanh kiếm khác còn để trong bích núi chưa có người làm chủ nhân. Lữ Thư chú ý sự kiện này, rồi hỏi :

― Tại sao hiền đệ để đoản kiếm Thanh Can vào bích núi, tỷ không hiểu ý của hiền đệ, có thể cho tỷ biết được không ?

Câu hỏi của Lữ Thư không phải là thừa, đương nhiên có nguyên nhân của nó, Hoàng Phi Bằng đành phải thổ lộ :

― Đệ có ý nhờ đại tỷ trao đoản kiếm Thanh Can trao Công chúa Hương Trí Túc, tỷ nói cho Công chúa biết đoản bảo kiếm Thanh Can luyện thành từ dẫn thạch trên trời mà thành, sức mạnh kiên cường gặp lửa bất biến, khi dụng đến nó sẽ phá mọi trở ngại. Đoản kiếm Thanh Can có sứ mạng can gián và không làm điều gì lỗi lầm với lương tâm. Công chúa là mẫu người thích hợp nhiệm vụ lãnh đạo Cần Lĩnh Nam thành viên Cần Lĩnh Nam thấy đoản bảo kiến Thiên Can tức là lệnh, ngoài ra còn có một cánh Ve Vàng thành viên của Hưng Việt Xã. Chàng dừng một lúc rồi nói tiếp:– Đôi lúc đệ cũng tự hỏi lòng mình chưa làm điều gì xấu xa ra không thẹn với tiền nhân, nay đệ chỉ cầu sao đời mình vô hối, không cầu vật chất bởi nó là thứ ngoại thân, cho nên không cần gìn giữ ôm nó vào người để làm gì.

Một lần nữa chàng thở dài nói tiếp:– Đệ được biết Khải đại huynh gửi trên đôi vai của tỷ một gánh nặng Hưng Việt Xã, hy vọng dưới sự hướng dẫn của tỷ sẽ đem lại hạnh phúc cho huynh, tỷ, đệ, muội nhất định sau này những thành viên Hưng Việt Xã cũng sống như hôm nay.

Lữ Thư hơi bối rối vì lời của Hoàng Phi Bằng có tâm ý khác thường, nàng vội nói :

― Cảm ơn hiều đệ cho lời khuyến khích, tỷ hứa sau này đời sống của huynh, tỷ, đệ, muội như hôm nay và đùm bọc thương yêu không thiếu một ai.

Hoàng Phi Bằng liền phi thân, ngó lại nói :

― Chào đại tỷ, bảo trọng, nhờ chuyển lời đến quú huynh, tỷ,  đệ, muội chúc bình an, tạm biệt.

Lữ Thư liền đưa tay ra vẫy chào :

― Hiền đệ bảo trọng.

Hoàng Phi Bằng Sơn phi thân lên hạc, bay một vòng trên bầu trời. Chàng vừa ra khỏi động đã thấy Vũ Thư Minh cùng một người lạ mặt ngồi trong chòi tranh chờ, chàng đến đúng khắc hẹn.

Từ trên không Hoàng Phi Bằng đã thấy Vũ Thư Minh, chàng vừa phi thân xuống cúi đầu thi lễ :

― Hài nhi kính chào Thúc Thúc, Thúc Bá.

Vũ Thư Minh đưa tay lên tầm vai cung tay hướng trước mặt người trung niên, giới thiệu :

― Vị này là Hoàng Phi Bằng, nguyên thủ lãnh Cần Lĩnh Nam, còn đây là thành viên Cần Lĩnh Nam Phân Bộ Giang Trung, họ Văn tên Văn Nam hai năm đầu với nhiệm vụ là Cần Lĩnh binh, bốn năm sau làm trại chủ dịch trạm Tháp Sơn nay làm chỉ huy phó Hoàng Phố văn võ tinh thông.

Hoàng Phi Bằng liền đi tới cạnh Văn Văn Nam chấp tay nói :

― Đa tạ, thì ra Văn Thúc˗bá cũng là người Cần Lĩnh Nam, may mắn vô cùng. Thưa, Thúc Bá gia đình mạnh khoẻ không, còn gia đạo thế nào ?

Hoàng Phi Bằng định nói tiếp thì Văn Văn Nam đã phất tay áo cung tay một bái nói :

― Dạ, đa tạ Thủ lãnh, thưa cả nhà mạnh khoẻ, gia đạo bình an, sống có ăn dư để, riêng con cái cũng theo ý chí của kẻ bầy tôi mà thành nhơn chi mỹ cả, nhờ sống trong lòng Cần Lĩnh Nam Phân Bộ Giang Trung mới được như ý ngày nay .

Hoàng Phi Bằng có phần âu lo, chưa tin tưởng khả năng đổi đen thay trắng để đạt thành công, tuy vậy chàng cũng không phụ lòng người dám hy sinh cho kẻ khác, rồi nói :

― Tốt lắm gia đình hạnh phúc như "Con hơn cha, là nhà có phúc". Tại hạ xin vào đề nhé ? Văn Thúc bá đã hiểu rõ chuyến đi này tuy bề ngoài là nguy hiểm, nhưng bên trong không nguy hiểm vì người Hán cần Thúc phụ Chu Thông Được, cho nên họ không ra tay sát hại người, khi Văn Thúc bá vào đất Hán cần thiết nhất là đừng lộ thân phận, tính tình thúc phụ rất kiên cường, không chấp nhận mọi trả giá để bán Mân Việt cho Hán.

Hôm nay Lạc dân Nam Việt phải đến lúc không còn chiều theo ý người Hán vì vậy nay nhờ Thúc Bá giả Chu Thông Được. Hài nhi cung cấp và hướng dẫn "Dung Dịch Thuật" bằng da để làm Chu Thông Được giả, hai con hạc nhỏ để đưa tin về cho Thúc thúc Vũ Thư Minh. Văn Thúc bá chỉ cần gõ vào cột nhà hai tiếng là hạc xuất hiện đưa tin. Ngày mai Văn Thúc bá lên đường với hài nhi qua Hán rồi đến Trường An đột nhập vào Lâu˗các, sinh hoạt bình thường như thế là thành công.

Văn Văn Nam hoạt động trong Cần Lĩnh Nam đã hơn tám năm chưa bao giờ gặp Hoàng Phi Bằng, tuy có nghe tiếng là nhân kiệt lãnh đạo cao nhất của Cần Lĩnh Nam, không ngờ người lãnh đạo của mình quá trẻ tuổi chỉ bằng con trưởng của lão mà thôi, thế mà đã làm việc phi thường, khẩu khí của chàng trai này tuy đơn giản nhưng mang theo mệnh lệnh nghiêng thành, trong lời nói rất tình nhà thân thuộc. Ông cúi đầu hành lễ theo nghi thức bề trên :

― Thưa Thủ lãnh, trước hết Cần Lĩnh binh kính cẩn, mạo muội xin hỏi đôi câu. Việc này chỉ đơn giản vậy hay sao ?

Dĩ nhiên là khó khăn đối với một người thiếu khả năng, riêng Hoàng Phi Bằng xem việc hàng động này là bình thường, chàng đáp :

― Thúc Thúc an tâm, tại hạ đưa đi thì phải đón về, chỉ vài tháng sống tạm trên đất Hán, sau đó Thúc Bá sẽ về đoàn tụ với gia đình.

Hoàng Phi Bằng mời Vũ Thư Minh và Văn Văn Nam về động. Lúc này sinh họat của động thay đổi, tất cả huynh, tỷ, đệ, đã dời lên động trên, còn động dưới làm vườn hoa, trồng cây ăn trái, sảnh đường dành tiếp khách vãng lai của Hoàng Phi Bằng. Lần đầu tiên Vũ Thư Minh biết nơi ở của Hoàng Phi Bằng. Ông liền nghĩ thầm:– Quà là đời sống của Phi Bằng rất thanh bạch.

Thực ra Vũ Thư Minh và cả Cần Lĩnh Nam không biết nơi cư ngụ chính thức cùa Phi Bằng tại động Lạc Việt. Hoàng Phi Bằng tự tay làm cơm mời Vũ Thư Minh và Văn Văn Nam dùng buổi chiều, sau buổi chiều có một tuần rượu và trà, chàng uống trà còn Vũ Thư Minh và Văn Văn Nam uống rượu, chàng để ý thấy Văn Văn Nam uống rượu từng hớp một rồi ngụm miệng đưa rượu xuống cổ như để thưởng thức. Chàng thăm dó nghệ thuật uống rượi, hỏi :

― Thưa, Văn Thú thúc rượu ở đây thế nào ?

Văn Văn Nam cũng là tay uống rượu, vừa hớp đến chung thứ hai, liền đáp :

― Rượu quý uống vào có khác, rượu này có tên là Túy Tương, có thể chín tuổi hay là mười năm sau khi uống để lại hậu rất thơm.

Hoàng Phi Bằng gập đầu đáp lễ, khen :

― Văn Thúc bá nói rượu Túy Tương là đúng không sai, còn tuổi rượu cũng từng ấy năm. Thúc thúc có biết làm rựu Túy Tương không ?

Văn Văn Nam nghe hỏi như trúng tủ rượu, liến đáp :

Phương pháp chế rượu dùng hũ tĩn bằng sành mỏng, miệng nhỏ bằng gốc tre già, bụng tĩn to hơn trăm lần miệng hũ, nung độ lửa cao nhất màu sanh đen. Chọn cao lương đầu mùa, lấy nước suối vào buổi sáng tinh sương vì trong nước có chứa âm dương. Luận về rượu ngon người ta thường tính theo thời gian. Rượu để lâu năm càng quý, chỉ khi nào cao hứng mới uống vào mới thấy tuyệt hảo khẩu vị .

Hoàng Phi Bằng hứa :

— Ngày hội ngộ hài tại hạ tặng Văn Thúc bá một vò rượu Túy Tương trên hai mươi năm.

Văn Văn Nam cúi đầu:

— Kính đa tạ thủ lĩnh.

Hoàng Phi Bằng tuy không uống rượu nhưng biết cấu tạo và phong cách rượu, chàng không nói Văn Vam Nam mà mượn cảnh nói người như một nhắc nhở trong lúc xa nhà, xa quê hương. Chàng nói tiếp:– Phàm con người uống rượu khi không được vui hay khó khăn đó là chuyện dĩ nhiên, lòng càng suy nghĩ thì nên uống rượu từ từ, uống từng ly, từng ly để nó có dịp suy nghĩ, suy nghĩ qua rồi con người sẽ thấy mệt thì đã bị say, khi tĩnh rượu thấy con người thoải mái, như vậy mới gọi là phong cách mượn rượu giải sầu. Trái lại uống rượu gấp gáp thì chỉ mau say, mau tĩnh e rằng khi tĩnh rượu thì mọi việc vẫn tiếp tục, không những lãng phí rượu mà còn nặng triểu tâm tư.

Trước đây tại hạ chẳng có gì phải ngưỡng mộ rượu, nay nghe Thúc Bá nói về rượu cũng là dịp thành tâm ưu ái Thúc Bá thành viên Cân Lĩnh Nam. Nhưng khi Thúc Bá thi hành nhiệm vụ không nên để lòng ưu ái rượu. Trong giang hồ rượu nghĩa lễ không ai mỉa mai mà còn quý trọng. Quyền thế hay danh hão tự mình hiều lấy trong men rượu. Cũng không buộc ai phải hiều rượu theo ý mình.

Văn Vam Nam không ngờ người uống trà lại biết phong cách uống rượu, thán phục nói :

― Tại hạ biết rồi, sau khi đến đất Hàn thì phải đối phó như thế nào để còn về lại quê nhà .

Chàng chúc Vũ Thư Minh và Văn Văn Nam ngủ bình an. Hẹn sáng mai lên đường, Hoàng Phi Bằng đưa Vũ Thư Minh cùng Văn Văn Nam ra khỏi động.

― Chào tạm biệt Thúc Thúc.

Chàng cầm tay Văn Văn Nam phi thân đưa lên đại hạc, bay thẳng về hướng Bắc, đến Trường An chàng tìm được Lâu˗các Mân Việt Xứ, chàng cùng Văn Văn Nam phi thân vào núp sau cánh cửa phòng ngủ, thấy Chu Thông Được đang uống trà, liền nghe Bạch khẹc dùng nhĩ ngữ truyền âm :

― Hiền đệ hay quá, huynh chờ đã lâu mới gặp ở đây, hành động nhanh lên, chàng vừa bước ra Chu Thông Được biết là Hoàng Phi Bằng đến cứu ông, lại thấy một người giả dung mạo như mình, ông lanh trí nói :

― Qui luật sống ở đây, sáng điểm tâm, dùng cơm trưa, chiều, uống một thứ trà Thái Nguyên, tối độc sách kinh thư, luyện kiếm pháp, ngủ sớm hay trở tùy mình, họ đề nghị những gì phải đắng đo, có lợi cho Nam Việt thì chấp thuận, bằng không từ chối, tuy vậy những ngày tới phải tùy nghi ứng phó vì người Hán đa mưu, họ đã chuẩn bị kéo quân vào Trường Sa, Văn Văn Nam hiền huynh thủ vai Mân Việt Vương cho thật khéo nhé, nhất là không nên hưởng dụng rượu vì tại hạ không bao giờ hảo rượu. Tại hạ xin chào sẽ hậu tạ sau.

Bạch khẹc cẩn thận nói với Hoàng Phi Bằng :

― Huynh phải ở lại, vài ngày nữa sẽ về động Lạc Việt. Hoàng Phi Bằng gật đầu đồng ý, chàng nắm tay Chu Thông Được phi thân mất dạng. Văn Văn Nam đã nắm vững tình hình, tuy lòng có ngại nhưng sau vài ngày an tâm sống bình thường. Chu Thông Được về đến Tượng Quận cha con trùng phùng cùng nhau vui mừng, vài ngày sau Hoàng Phi Bằng đề nghị với Chu Thông Được :

― Thưa Thúc Phụ hôm nay đi Trường Sa phục chức Mân Việt Vương, cầm lấy binh quyền trên tay người Hán. Cả nhà chưa hiểu ý, nhưng Chu Thông Được đã hiểu, ông nói :

― Việc đại sự cần làm gấp, theo hiền điệt cứ thực hiện như vậy, tuy hiện giờ mỗ chưa hiểu mưu lược của hiền điệt có chắc chắn là thành công không ?

Hoàng Phi Bằng trầm tĩnh tinh thần để cả nhà ổn định đáp :

― Thưa Thúc Phụ, Thúc Thúc, quý Thúc Thúc Mẫu, việc làm lần này là nội giám phản Hán, tên giả Mân Việt Vương dung mạo như Thúc Phụ chỉ cần biết qui luật sinh hoạt của y là thành công, trước nhất bắt toàn bộ chúng, rồi thay vào toàn bộ người của mình, sau đó tìm mọi cách lấy qui luật sinh hoạt của chúng. Hiện nay chúng có bảy tướng kể cả tên giả Thúc Phụ, sáu người của Cần Lĩnh Nam Phân Gộ Giang Nam mang mặt nạ da do hài nhi cung cấp, riêng Thúc Phụ vẫn nguyên hình.

Vũ Thư Minh lo âu hỏi :

― Làm thế nào để bảo vệ được Gia gia của Thúc Thúc ?

Hoàng Phi Bằng điềm tĩnh đáp :

― Sẽ có một toán quân trên trăm, giả làm quân Hán theo hầu Mân Việt Vương, đó cũng là Cần Lĩnh Nam Phân Gộ Giang Nam bảo vệ Thúc Phụ.

Chu Hoa Thủy thấy chưa ổn :

― Làm thế nào bắt được bảy tên tướng Hán, đang ở trong phủ Mân Việt Vương ?

Hoàng Phi Bằng liền đáp :

― Hành động cùng một lúc, bảy tướng Hán giả thay vào tướng Hán thực, hài nhi cùng Thúc Thúc quý Thúc Thúc Mẫu yểm trợ, tuy nhiên hài nhi là người ra tay trước.

Chu Trang Thủy thấy vẫn còn sơ hở liền hỏi :

― Như vậy bảy tướng Hán đem đi đâu để lấy qui luật sinh hoạt của chúng ?

Hoàng Phi Bằng đã tìm được mưu kế nhưng không nói hết để người khác biết được sinh ra phức tạp, chàng nói khẽ :

― Thưa Thúc Thúc Mẫu, trong phủ Mân Việt Vương có một đường hầm bí mật, đưa chúng xuống đó rồi khai thác thì việc gì cũng phơi bày ra ánh sáng, lấy lời khai của chúng cho đến khi nào vãn hồi trật tự Trường Sa thanh bình mới thôi, sau đó ân xá chúng cho về Trung nguyên theo nhân đạo Việt, đương nhiên nhà Hán bá đạo sẽ hài tội họ, chỉ bấy nhiêu đó thôi đủ làm cho nhà Hán điên đầu cũng là  cách hòa không chiến và kính trọng Nam Việt hơn.

Vũ Thư Minh như người bay bổng đôi mắt châm chiêu lòng cảm ngạc nhiên hỏi :

― Thúc Thúc chưa bao giờ nghe Tiên Phụ nói về bí mật đường hầm đó cả, điệt nhi căn cứ vào đâu mà biết có đường hầm dưới bệ ngai Mân Việt Vương ?

Hoàng Phi Bằng không còn lo ngại nữa liền tiết lộ :

― Chính nơi an toàn nhất ở trước mắt, không ai dám suy nghĩ dưới bệ ngai Mân Việt Vương có đường hầm, cửa xuống hầm bên tay trái của ngai, bấm vào răn cùng của con rồng, nơi tay cầm thì cửa sẽ mở ra, bình thường khó ai thấy được mí cửa hầm vì thiết kết rất tin vi.

Lúc này mọi người mới chịu lấy quyết định theo kế mưu của Hoàng Phi Bằng, nhất nhất hàng động. Quả thực thành công, người ngoại cuộc không tài nào biết bí mật tráo đổi Mân Việt Vương, tài tình như có phép lạ.
 
Hoàng Phi Bằng phi thân hướng đến động Gia Phong Sơn, đúng vào thời tiết cuối mùa Đông. Chàng tự nói:– Nếu luyện tập võ ngoài trời bị chặm lại một phần, còn luyện tập tại võ đường trong động đương nhiên là bình tường, tuy nhiên luyện tập ngoài động mới thấy hữu hiệu hơn. Lần này Hoàng Phi Bằng thăm viếng Hoàng Phi Khải có ý muốn trao kho tàng tại động Lạc Việt cho Phi Khải quản lý. Chàng thăm dò ý trước khi quyết định :

— Thưa, Khải đại huynh, hôm nay đệ có ý trao kho tàng cho đại huynh quảng lý, không biết đại huynh suy nghĩ thế nào ?

Hoàng Phi Khải không ngạc nhiên cũng không vui mừng, từ trước đến nay chưa bao giờ chàng chú ý về kho tàng, mỗi lúc đến động Lạc Việt thăm viếng hiền đệ và mượn không gian để định tâm đọc sách, đáp :

Thế gian này là phương tiện để huynh và đệ đồng sống, nói lên suy tư của mình về Bách Việt. Kiến thức của huynh không vì vật chất, chắc chắn không thể tường tận bằng hiền đệ về kho tàng. Nếu như tìm một người khác có lẽ tốt hơn. Huynh muốn nói vậy là vì hiểu mình không làm được gì cho tha nhân, nếu hiểu quá ít thì đừng nhận trọng trách lớn, nó chẳng những không lợi cho người khác mà trái lại tự hại mình .

Hoàng Phi Bằng không ngần ngại nói:

— Như đại huynh đã biết kho tàng này giúp đất nước phát triễn mới ngày nay, nếu trao buổi sáng cho người không có lòng với đất nước thì buổi chiều sẽ có trang chấp, vô tình tạo ra muôn người có mầm tham lam đấu đá với nhau, có khác nào đệ khơi động "nồi da xáo thịt".

Hoàng Phi Khải hỏi:

— Lý do nào hiền đệ tặng kiếm vào phân nhiệm cho huynh, tỷ đệ, muội và cả Công chúa Trí Túc, hôm nay hiền đệ lại trao kho tàng cho huynh ?

Hoàng Phi Bằng cho biết:

— Đã đến lúc đệ trao mọi thứ cần thiết cho huynh, tỷ, đệ, muội phụ trách, có như thế họ mới thi thổ hết khả năng, nếu mình giữ mãi thì họ không có cơ hội để phát triễn tình người nhất là tình Bách Việt. Còn trao kho tàng cho đại huynh không có ý gì khác, đệ hiểu đại huynh như Mẫu thân hiểu huynh, tỷ, đệ mình vậy. Đại huynh cũng am tường phương thức lấy kho tàng phát triển đất nước như thế nào mà.

Hoàng Phi Khải đề nghị:

— Hiền đệ phải biết không bao lâu nữa Nam Việt không cần đến kho tàng này vì triều đình cũng ý thức kho tàng này không thể đem ra sử dụng mãi được, đây là một dự trữ cho đời sau, chuyện đất nước có lúc thịnh suy, nếu như ăn hết đời này, những thế hệ sau sẽ gặp khốn khó lúc ấy lây đâu mà xây dựng đất nước. Hiền đệ phải tự tính lấy, huynh không thể nhận được .

Hoàng Phi Bằng thở một hơi dài nói:

— Rất tiếc không tìm được một huynh, tỷ, đệ, muội nào có khả năng như đại huynh. Thưa đại huynh còn Ngũ phổ bích động Lạc Việt đại huynh có tham khảo không ?

Hoàng Phi Khải đáp :

— Việc này, huynh rất thích thú, tuy có đọc qua nhưng chưa thấy bản chính.

Hoàng Phi Bằng cố tình đưa Phi Khải lên Ngũ bích, nhưng phải đi qua kho tàng hy vọng đại huynh để ý đề nghị quản lý kho tàng, khi Phi Khải lướt qua kho tàng không bận tâm, tuy nhiên chàng đứng lại trước kệ thư phòng thật lây và còn đam mê không muốn lên đỉnh Ngũ bích võ học Lĩnh Nam. Hoàng Phi Bằng hối lắm chàng mới rời thư phòng, khi lên đỉnh núi chàng đứng ngắm nghía Ngũ bích một hồi rồi nói :

— Huynh và đệ có cùng một sư phụ, đệ khám phá võ học trong động Lạc Việt, còn huynh khám phá trong thư phòng, nói chung có đam mê thì nơi nào cũng hiện ra nhu cầu. Thôi huynh và đệ về động Nam Khê Sơn, lúc nào rảnh rang huynh sẽ vào thư phòng Lạc Việt để thầm mình.
 
Lúc này tại động Nam Khê Sơn tổng cộng mười tám người tuổi thanh xuân, đồng nhận được thiệp mời tham dự lễ thành hôn của Hoàng Phi Khải và Công chúa Hương Trí Túc, còn hai mươi ngày nữa tất cả đồng lên đường đi đến Phiên Ngung thành địa điểm tạm trú tại phủ Công chúa Trí Túc. Còn những thành viên trong gia đình học Hoàng và huynh, tỷ, đệ ba phân bộ Cần Lĩnh Nam tạm cư tại phủ Phò Mã. Sau ba ngày hôn lễ đã thành Hoàng Phi Khải ở đây hai tháng.

Lễ thành hôn đã thành tốt đẹp. Lữ Thư thay mặt động Nam Khê Sơn chúc đôi uyên ương :

― Hiệp hôn thượng tri thời, uyên ương bất túc ly thân, đàm hỷ tân hôn hỷ, ngã vốn tự tình đắc dụng tình. Sớm sanh quý tử, vạn sự như ý, bách niên hảo hiệp.

Hoàng Phi Bằng đứng gần Lữ Thư nói nhỏ như khiêu khích :

― Hiền tỷ, sao mà vẫn độc thủ khuê phòng như vầy khó coi lắm, đại huynh đã thực hiện đúng lời người xưa "Nam đại đương hôn", còn tỷ đúng là nữ góa góa, hiền tỷ là nữ đẹp tu hoa đế nguyệt thế mà không có đấng minh quân để sửa lưng lắc túi "ha hà…"

Lữ Thư cười ôn tồn đáp :

― Còn hiền đệ cũng thế thôi, sở dĩ to đầu mà không có ai để yêu vì đi trên mây, chân không chạm đất, người đẹp nào biết đâu mà tìm "ha hà... " hay là hiền đệ sợ người ngoài họ lắc cái gia tài của mẹ, tỷ buồn quá có một hiền đệ sợ phái yếu, nhưng không sao cậu út à . Biết đâu phước nhà sẽ đến với hiền đệ, hy vọng "Vợ chồng phận đẹp duyên ưa". Nàng "hừ" một tiếng, miệng cười nói tiếp:– Tỷ sẽ tìm cho hiền đệ một cô bạn trăm năm nhé ?

Lữ Thư vừa nói đến đây có giám binh báo hung tin quân Hán đã xua quân như vũ bảo tràn vào Trường Sa, tất cả cùng hoảng hốt, duy chỉ có những lãnh tụ Cần Lĩnh Nam cũng như Hoàng Triều ung dung, điềm tĩnh.

Nam Việt Vũ Đế triệu tập quần thần khai triều nghị, đứng đầu triều đình có Vũ Đế, Thái Tử Hồ, bát phẩm triều đình quan văn, mưu sĩ gồm có Thừa Tướng Lê Cơ Mạnh, Thái Sử Trần Hồng Lĩnh, Thái Phó Lữ Trường Gia, Thái Bảo Lý Từ Cố. Các tướng văn võ tại Triều có Hộ thành Hoàng Quốc Kỳ, Hộ vệ quân Trần Thanh Hổ, Ngự lâm quân Lê Cung Minh, Cơ mật viện Nguyễn Đàm Châu, Vạn hổ hầu La Chấn, Thiết Lộ sứ Đỗ Hiếu Trung, Thiết Lộ sứ Trương Vũ. Dân quân Cần Lĩnh Nam có Hoàng Phi Bằng, Vũ Thư Minh, Hoàng Phi Biên, Hoàng Lữ Giao, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy, ngoài ra còn có Tôn Nhân Phủ như Triệu Đường Thắng, Triệu Dĩ Bá, Triệu Quốc Chính, công chúa Hương Hoa Bình, Hương Trí Túc, Hoàng Phi Khải, đứng trong Cung Điện triều nghị.

Thừa tướng Lê Cơ Mạnh trình tấu :

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ, di thần khải tấu, theo binh quyền hiện thời soái kỳ binh phù do Hoàng thượng lãnh binh, Hoàng thượng đã xuất chỉ cho các Tướng ngoài mặt trận chuyển quân về Trường Sa khẩn cấm, như Tướng quân Nam Bình Hầu Triệu Hành Giả đóng binh mặt Đông. Tướng quân Bình Nam tiền phong Đặng Hà Đàm đóng binh mặt Bắc. Đồng Tướng quân Hổ Trung lan Võ Khố đóng binh mặt Tây. Tướng Quân Điện Tiền Thái úy Triệu Long Ân đóng quân Đồng Tương.

Di thần khẩn tấu, quân Hán xua quân vào Trường Sa bằng ba mặt cương giới Bắc, Đông, Tây hơn ba vạn. Cách đây hai canh giờ quân Hán tiến quân vào lãnh thổ Nam Việt đương nhiên là chủ chiến, nhưng đến giờ này không có tin báo của các Tướng quân ngoài mặt trận, di thần chỉ nhận được tin cấp báo Bắc, Đông, Tây của dân binh Cần Lĩnh Nam, thử hỏi những tướng quân binh mã của Triều đình hiện giờ đang ở đâu, nguyên do nào không có mật tấu về Triều đình như đã ấn định. Di thần còn được tin quân nội ứng của Hán, do Mân Việt Vương Chu Thông Được lãnh đạo hai ngàn quân Hán thiện chiến phối hợp nổi dậy trong đất Hán.

Thái Tử Hồ đã liệu sự trước, rồi tấu :

― Muôn tâu, Hoàng Thượng điện hạ, Thừa Tướng Lê Cơ Mạnh trình tấu không sai. Soái kỳ binh quyền do Hoàng thượng lãnh binh tuy chưa xuất binh, nhưng đã có dàn trận thế rất chu đáo, bây giờ đột biến quân triều đình bất động để cho quân Hán tiến vào Trường Sa. Quả thực từ bao lâu vẫn tin tưởng những tướng ấy là rường cột nước nhà, nay Trường Sa thất thủ, mới biết cột đã bị mọt ăn mục hết ! Vậy quý khanh có mưu kế gì nữa không ?

Nam Việt Vũ Đế trầm ngân một lúc, không thấy quan văn võ tướng Triều đình thần tấu, Vũ Đế liền hạ khẩu dụ :

― Đã đến lúc Trẫm lấy quyết định xuất bốn đạo quân tiến thần tốc thẳng đến Bắc, Đông, Tây và Đồng Tương. Trẫm nhờ cậy vào Lạc dân và dân quân Cần Lĩnh Nam, đây mới là thời gian để Trẫm nghiệm "Cung thượng ứng thiên mệnh, hạ ứng nhơn tâm", hy vọng vạn sự may mắng cho Triều đình, rãi phước cho thiên hạ bá tánh an lành. Trong nghị Triều hôm nay quý khanh nào chấp thuận khẩu dụ này củng Trẫm xuất trận diệt trừ quân Hán, bải nghị Triều .

Lần đầu tiên trong lịch sử Nam Việt nghị Triều trong lúc hôn lễ vừa hết thúc, xác pháo vẫn còn đỏ sân, những thiệp chúc hôn lễ chưa mở hết vui mừng.

Vợ chồng  Hoàng Phi Khải xin xuất trận, liền tấu :

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ. Chúng di thần xin hộ giá Hoàng thượng xuất trận.

 Nam Việt Vũ Đế hạ khẩu dụ :

― Trẫm khen quý khanh bình tĩnh, hay lắm, Rrẫm chuẩn.

Cùng lúc Nam Việt Vương Phùng Nam tâu :

― Khấu kiến Hoàng Thượng điện hạ. Di thần nhận trách nhiệm lương thảo, xin Hoàng thượng ban ân xuất chỉ.

Nam Việt Vũ Đế khen và nhắc nhở :

― Khanh nhiệt tình lắm, Trẫm chuẩn. Có khanh là Trẫm an tâm, quý khanh nhớ bình tĩnh định lại cờ trống vào lúc này. Một lần nữa Nam Việt Vũ Đế hỏi lại Phùng Nam :

― Khanh đã chuyển binh trước cách đây một tháng, đạo quân Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam di chuyển bằng đường thủy vào cửa Hổ Môn và đang tiến vào Trường Sa, do các tướng lãnh binh Lê Đằng, Đào Tứ Cường, Tô Thành, Bàng Lân, Trần Tam Hiệp và tướng Nguyễn Hà chỉ huy, khanh hãy cho biết tình hình thế nào rồi ?

Phùng Nam liền tâu :

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ. Thần đề nghi Hoàng thượng chuẩn, ban ấn tướng cho Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đây là động lực tiến binh nhanh hơn.

Hoàng Phi Chỉnh bổ túc tướng, liền tấu :

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ. Di thần thỉnh cầu Hoàng thượng ban ân, cho phép hạ thần cùng Chuyết˗kinh hộ giá Hoàng thượng, riêng Cần Lĩnh Nam Giang Nam làm lá chắn hộ chiến .

Nam Việt Vũ Đế hạ khẩu dụ :

― Trẫm rất hài lòng, chuẩn.

Hoàng Phi Bằng thay mặt Cần Lĩnh Nam khấu đầu, tâu :

― Muôn tâu Hoàng thượng bệ hạ. Di thần khấu tâu, Cần Lĩnh Nam thay mặt Mân Việt Vương Chu Thông Được sẽ phản công Hán, còn ngoài mặt trận Cần Lĩnh Nam phối hợp quân binh Triều đình quyết chiến quyét sạch quân Hán ra khỏi Trường Sa.

Thực ra Nam Việt Vũ Đế, Thái Tử Hồ, Phùng Nam và HPKhải và HPBằng đã thảo luận về kế sách cho nên nắm rõ thắng bai trên chiến trường Trường Sa. Vũ Đế hài lòng lời phát biểu có ẩn ý dụ trong trận chiến này cùng dịp trừ gian tế Hán tại nghị Triều.

Nam Việt Vũ Đế trầm tĩnh tươi cười, như không có chiến tranh ban khẩu dụ :

― Trẫm hài lòng, chuẩn ban ấn tướng cho Hoàng Phi Bằng, Vũ Thư Minh, Hoàng Phi Biên, Hoàng Lữ Giao, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy. Đồng thời Vũ Đế ban chỉ phủ dụ an dân Trường Sa. Tiếp theo Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ dụ, hai canh giờ sau là xuất quân ra chiến trường.

Động Đình hồ một buổi sớm mai mặt trời chưa lố dạng soi gương, vẫn còn sương mù phản phất, lảng vảng trên mặt nước lúc lờ mờ, lúc hiện vài con thuyền nhỏ, đến khi mặt trời lên cao bừng hiện ra tấp nập thị thuyền như ngày trẩy hội đầu xuân, thấp thoáng có vài con xuồng nhỏ phóng nhanh lao về phía trước. Bỗng có một con xuồng độc mộc chồng chành chèo vội vã, lước nhanh lia thia trên mặt nước chở Hoàng Phi Bằng len lách qua những chiếc ghe buôn lương thực hai đáy có chứa binh khí.

Người bàng quan bình thản xem cảnh thiên nhiên của Động Đình hồ, đúng là nơi tiên giới đang hành hương, hay những ai yêu đời hành sĩ thường nhắm mắt mơ màng thoát tục. Người trong cuộc chiến tranh đang giả dân buôn, dân chài tất cả chuẩn bị chờ hiệu lệnh, đó là  buổi sáng thanh bình cho cuộc chiến bắt đầu khởi sự.

Hoàng Phi Bằng khẽ gọi một Cần Lĩnh binh nói :

― Nhờ hiền huynh cắm cây cờ vuông màu vàng nhỏ này lên trên mui xuồng.

Người Cần Lĩnh binh cúi thấp người, đáp :

― Dạ vâng, đệ tử tuân lệnh ạ .

Đây là dấu hiệu tập hợp thập bát anh hùng động Nam Khê Sơn tại cửa Tây Động Đình hồ, cứ ba khắc có một xuồng cắm cờ vàng chèo đến gần xuồng Hoàng Phi Bằng, chàng lập trận đồ độn ngũ hành trong "Bát Quái Lĩnh Nam" chia thành: Kim trấn thủ Đồng Tương hướng Tây do Trịnh Trường, Quách Tuyết Băng, Lệ Thanh, Xuân Giao, Phụng Anh phụ trách.

Cung Mộc trấn thủ Động Đình hồ hướng Bác do Hoàng Lữ Thư, Chu Thông, Phụng Châu, Chu Thiện phụ trách.

Cung Thủy trấn thủ hướng Nam do Chu Hào, Đinh Anh Thi, Quách Tuyết Thương, Đào Phụng Hiệp phụ trách.

Cung Hỏa trấn thủ hướng Đông do Lý Bình Trung, Trần Kiều Onh, Đào Phụng Thương hộ giá Vũ Đế.

Cung Thổ, đích thân chàng trấn thủ phủ Tòng Giang, Động Đình hồ, riêng Trịnh Đình Thông, Đỗ Trọng Kha, Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm hộ vệ Chu Thông Được tại thành Nhạc Dương.

Cánh di động, giao liên do huynh đệ Hoàng Phi Hạ va Hoàng Phi Tuấn phụ trách, đi theo Hoàng Phi Bằng, chàng bấm độn xem kết quả trận đố cuộc chiến, đúng ngày Đinh hợi, ngũ cung phi tinh, túy nhập trung cung, ngũ sắc hà hướng Bắc, tụ thành ngũ cung phi tinh có hung. Tứ hà cung hướng Bắc gặp hành thổ lại thêm vào hành Dương quả là càn chỉ rõ Nam Việt thắng trận.

Tiếng vó ngực cung kiếm quân binh Hán bốn phương xuất hiện tại phủ Tòng Giang giáp Đông cửa Động Đình hồ, hơn một vạn quân Hán mới đến nơi đã mỏi mệt vì tiến quân thần tốc vào đất Nam Việt phải trải qua nhiều ngày đường xa, chưa đến điểm hẹn chiến trường phải hạ trại tạm nghỉ ngơi .

Lữ Thư cùng Chu Thông giả binh Hàn vào trung quân tướng Hán, thấy một tên lưu linh trẻ đang uống rượu, mặc giáp bào đúng là tướng Hán, thế ngồi của y đã lắc lư theo chiều gió, hồi lâu y ngẩn đầu lên .

Lữ Thư ngỡ ngàng nói khẽ :

― Hiền đệ à, y chính là La Tử Hiền ( Độ Thiếu ) ngày nào đó, tỷ sẽ bắt sống nó, còn hiền đệ thủ cửa đừng sơ hở nhé ?

― Dạ, đệ vâng lời tỷ tỷ ạ .

Lữ Thư phi thân nhẹ tiến vào, La Tử Hiếu thấy bóng đen, thuận tay xuất ra một chiêu quyền "Nhất thập sát" Lữ Thư tránh né được an toàn, tuy vậy bên tay trái vang lên tiếng "tét tét" nàng thấy tay áo bị rách tươm, chiêu số rất kỳ lạ, lần đầu tiên nàng tiếp võ học người Hán, Chu Thông biết bị trúng kế của La Tử Hiếu, quả là có gian tế đâu đây ?

Lữ Thư không xem thường địch thủ nữa, nàng đi thẳng vào hỏi :

― Đệ mạnh khoẻ không, bây giờ đã là tướng quân nhà Hán, thật không ngờ rất khá nhỉ ?

La Tử Hiếu đáp lại :

― Đúng thế, chuyến này tại hạ về Nam hốt hết động Nam Khê Sơn đám đệ tử của Hoàng Phi Bằng.

Lữ Thư thừa biết Độ Thiếu là kẻ gian manh, rồi hỏi :

― Độ đệ à ? Mới một chiêu đừng tưởng lay gió xuân là đắt chí. Lữ Thư nói chưa dứt lời Độ Thiếu xuất chiêu quyền "Nhị sinh sát" Lữ Thư thấy nội lực của y có phần hung hăng hơn chiêu trước, lần này nàng đã đề phòng tránh không khó lắm, nhưng nàng muốn thử xem đầu kiếm rung động đến đâu ? Nàng vận nội công lên đầu kiếm tiếp một quyền "keng keng" đầu kiếm mẻ một góc, nàng gọi tên thật của Độ Thiếu :

― Tên gian tế La Tử Hiếu, hôm nay mi chờ kiếm lau cổ rồi. Ta đã ân huệ cho ngươi hai chiêu.

La Tử Hiếu cười "ha hả…" nói :

― Đúng thế, hai chiêu vừa rồi mới là điểm tâm, đây mới chính là chiêu bày cổ bàn để mời ta ăn nhậu, Lữ Thư ơi đã đến lúc chết không kịp ngáp đấy ?

Lữ Thư cười "ha hà" đáp lại :

― Đồ cẩu trệ Hán, mặt dày da thô, không biết thẹn thuồng ăn cơm Tiên đất Nam thờ Quỉ đất Bắc, mới được hơi mùi chao đỏ đã bỏ mắm cá lóc rồi, đúng là quân giặc nhà Hán không khác nào giặc Hồ ngày trước.

La Tử Hiếu trợn mắt quát lớn :

― Mỗ về đây là để đòi mạng trả nợ thù nhà, không nói nhiều.

Lữ Thư tay cầm thanh kiếm đưa thẳng vào mặt La Tử Hiếu, rồi đáp lại :

― Nợ nhà gì vậy ? Gia gia mi không lo kinh doanh để sống qua ngày, đi làm gian tế Hán, cái chết đó trách ai chứ, nay mi cũng đi trên con đường cha mi, mi muốn đòi nợ hả, thôi thì để ta tiễn chân một đoạn đường, xuống âm phủ thăm viếng cha mi nhé ?

La Tử Hiếu sát khí đằng đằng, hai bàn tay đập vào nhau xuất quyền "Tam hồ khí" được nửa vòng, Lữ Thư đã xuất chiêu "Hỏa nạp lò" hợp trên dưới hóa lửa ánh sáng, chớp đánh tan những sự ngăn cách, chiêu số đi thẳng vào lấy sinh mạng La Tử Hiếu, chỉ một chiêu trong "Bát Quái Lĩnh Nam" La Tử Hiếu hiện thành một đống thịt tươi.

Nàng quét mắt ra ngoài lều vải, miệng gọi Chu Thông :

― Chu đệ, lấy các tên này, lập tức rời khỏi nơi này gấp ?

Lữ Thư cùng Chu Thông đem thây ma La Tử Hiếu đến báo tin nội tình trong đêm cho Hoàng Phi Bằng biết, nàng nói :

― Tướng Hán chính là tên La Tử Hiếu, tỷ đã hạ lệnh cho y ra mắt Diêm la. Vào canh tư này tiến vào cướp trại Hán nhé ?

Lúc này Bạch khẹc núp trong tay áo Hoàng Phi Bằng, chàng đã biết nhiệm vụ của La Tử Hiếu ở trong quân Hán, rồi chàng cười nói :

― Tỷ tỷ à ? Tên La Tử Hiểu chỉ là quân cờ nhỏ trong quân Hán, y không phải tướng mà làm chó săn đó. Hiện cánh quân Hán ở phủ Tòng Giang, cánh quân Hán này có ba tên tướng, Tiền đạo họ Vi tên Lộc Quảng, Trung đạo họ Từ tên Đồng, Hậu đạo họ Trang tên Tú Cảnh. Hiện giờ binh tướng Hán bị động cho nên canh phòng nghiêm ngặc, tiến vào trại địch chưa tiện lắm vì chúng mới đến đã mệt mỏi, lại tiếp theo một đêm không ngủ, phải chờ đến cuối canh năm, mới chôn thây quân Hán trên đất Việt. Trong binh pháp có nói "Không chiến bại người".

Qua canh năm còn sương mù, Hoàng Phi Bằng xuất lệnh hơn ba trăm Cần Lĩnh binh rời thuyền, lên bờ tiến vào trận, đúng như dự trù Tiền đạo Hán tướng Vi Lộc Quảng tử trận tan rã, nhưng không ngờ Trung đạo do Từ Đồng điều động binh tướng như thần, tập hợp được Tiền đạo cùng Trung đạo tiến về phía Cần Lĩnh Nam, nửa vạn binh Hán xáp chiến thuật "nhân hải". Hoàng Phi Bằng thấy trước mặt quân số hai bên quá chênh lệch, liền hô lớn :

― Tất cả huynh đệ lui bước, tại hạ xin làm trâu nghé không hề sợ cộp.

Chàng cùng Lữ Thư và Trịnh Trường, cả ba ngồi xuống đất theo hàng ngang đồng vận nội công xuất hết chiêu thức trong "Bát Quái Lĩnh Nam" chuyển bảy thành công lực đẩy ra sáu mươi bốn chiêu cứ thế mà biến hóa, có lúc dùng hai tay cầm đất cát như đang dương cung tên đắng vào địch Hán "ào ào" không khác nào trận mưa bảo cuồng phong, quét sạch lá vàng trên cây dưới đất, binh pháp Hán lấy thịt đè người bằng trận chiến hải nhân tiến lên, xác chết lớp lớp như núi, quân Hán chia thành tam giác tiếp tục tấn công, đúng như dự đoán của chàng trong trận đồ Hành Thổ.

Với vẻ mặt quyết định của chàng, thân nghiêng mình về hướng trái nói :

― Quý đệ Chu Thông, Đào Phụng Châu, Chu Thiện chia thành tam giác, Tỷ tỷ cùng Cần Lĩnh binh kết thành một vòng thành.

Chàng chuyển Hành Thổ xuất tam chiêu "Sơn hỏa bí, Thủy hỏa ký tế, Phong hỏa gia nhân" phá tan tành trận tam giác của quân Hán, lúc này thấy một bóng đen phi thân trước mặt điều động mộc binh tiến vào trận, tên tướng này tay cầm đao, trên lưng đeo một thanh kiếm, chàng nhận diện không sai chính là thanh kiếm của chàng năm xưa tặng cho tướng Mã Tử Di người Tề quốc. Đối với người nhãn lực bình thường chỉ thấy một bóng nhòa khó biết kẻ địch đang động binh.

Chàng nói thầm:– Hôm nay mình gặp cao thủ Hán, chưa biết y là ai. Trước nhất lấy thanh kiếm lại, sau đó chận đường tiến quân của Hán chưa muộn, chàng phi thân xuất chiêu "Đăng Thiên Khôn" trong "Đăng Thiên Lĩnh Nam" chưa đến nơi thanh kiếm đã ở trên tay, chàng đứng trước mặt tên tướng Hán nói :

― Thưa tướng quân, có thể cho tại hạ biết danh tánh được không ?

Tướng Hán biến đổi sắc mặt, mà thần tướng vẫn bình tĩnh, thấy trên tay của Hoàng Phi Bằng cầm một thanh kiếm. Từ Đồng vẫn chưa biết thanh kiếm bị mất, vội nói :

― Xin các hạ tránh ra một bên, mỗ không tiếp bất cứ ai trong lúc dụng binh đối địch, mỗ phải lấy xác địch để trả thù cho tướng quân Vi Lộc Quảng vừa tử trận, nếu các hạ là địch thì không có việc gì phải nói cả.

Từ Đồng xuất luôn một quyền tay ôm phong cuồng khí chuyển động mười thành công lực đẩy về phía trước. Hoàng Phi Bằng không phản ứng, thân đứng không động, ung dung tiếp nhận quyền của địch thủ. Từ Đồng nhãn lực không tệ thấy kẻ đứng trước mặt như một núi kim loại rắn chắc, bèn lấy hết nội lực thuận tay xuất chiêu quyền thứ hai. Hoàng Phi Bằng bình thảng đứng tư thế cũ, chiêu này cuồng khí mạnh khôn tả, tà áo phất phơ, hai tay áo lộng gió reo lên "phập phập" Hoàng Phi Bằng mượn gió phi thân xa năm trượng có ý dụ tướng Hán ra khỏi trận chiến. Từ Đồng phi thân theo, tuy biết địch thủ không phải tầm thường và muốn biết rõ đối địch hỏi :

― Các hạ là ai mà dám hỏi việc điều binh động mã, mỗ có nhiệm vụ phục hồi Mân Việt.

Hoàng Phi Bằng ngạc nhiên hỏi :

― Thì ra các hạ là tướng quân Từ Đồng đây à ?

Từ Đồng vừa nhìn lại càng bực bội với đôi mắt trợn lên kinh ngạc, có dấy hiệu không may trong lòng căng thẳng tột độ, một lần nữa đôi mắt trợn tròn, miệng đáp :

― Đúng thế, còn các hạ là tướng Nam Việt ư ?

Hoàng Phi Bằng hoành kiếm đứng trước mặt thân hình vạm vỡ trên tay cầm kiếm, rồi đáp :

― Không sai, tại hạ kính chào tướng quân, muốn hỏi một việc xin tướng quân lượng thứ và đừng ái ngại cho tại hạ biết về lai lịch cây kiếm này và khi trả lời phải chân tình đừng nói giả ý nhé ?

Từ Đồng thở dài tự hỏi:– Tại sao y lại bảo mỗ nói lời chân tình đừng giả ý chứ, đáp :

― Việc gì chưa ngả ngũ thế mà các hạ đã muốn giết gà để lấy trướng chứ ?

Hoàng Phi Bằng ung dung bước chân nhẹ đến gần cách nhau ba thước thi lễ, nói :

― Tại hạ muốn biết thanh kiếm trên lưng của tướng quân có liên hệ và lai lịch thế nào xin tướng quân cho biết ạ ?

Từ Đồng lúc này mới biết thanh kiếm trên lưng bị địch nhân lấy đang cầm trên tay, quả nhiên chính là thanh kiếm của mình, lập tức hỏi :

― Lý do nào các hạ đoạt thanh kiếm trên lưng của tại hạ và vào lúc nào, còn có ý hỏi lai lịch của nó để làm gì ?

Hoàng Phi Bằng suy nghĩ một hồi đáp :

― Tướng quân chưa trả lời, liên hệ thanh kiếm này, còn lý do đoạt kiếm sẽ được trả lời sau.

Từ Đồng hơi khó hiểu liến đáp :

― Được, thanh kiếm này tuy vô dụng nhưng nó là của gia bảo, tại hạ mất kiếm không khác nào mất người tâm phúc của Gia gia tại hạ.

Hoàng Phi Bằng mừng rỡ, nở một nụ cười nhu nhã nói :

― Tốt lắm, thế thì các hạ là người ở xứ nào thuộc Hán ?

Từ Đồng suy nghĩ:– Tại sao hắn lại hỏi vòng vo tam quốc nhỉ, đáp :

― Tại hạ người xứ Kiếm Nghiệp, xưa kia thuộc Tề Quốc thế thì có gì lạ đây.

Hoàng Phi Bằng an tâm xem như tìm được truyền nhân của Mã Tử Di, đang đứng trước mặt, hỏi :

― Tốt lắm, tại hạ tạm đón, có phải các hạ là người hạ thủ họ Mã tên Tử Di không ? Phải nói thật không được dối nửa lời và chứng minh trên lưng các hạ cây kiếm từ đâu mà có ?

Từ Đồng đang phân vân câu hỏi của đối phương, đáp :

― Vô lý, tại sao mỗ lại hạ thủ người ấy, vã lại người ấy chết sống trên đất Trung Nguyên thì cánh tay dài từ xa của các hạ làm sao liên hệ với Mã Tử Di ?

Từ Đồng ngạc nhiên tự thầm:– Tại sao gã này biết tên Gia gia mình, cả thanh kiếm này nữa. Trong đầu đang suy nghĩ, lòng bối rối, thì nghe Hoàng Phi Bằng hỏi :

― Thanh kiếm này của đại huynh họ Mã tên Tử Di người Tề quốc, làm sao các hạ có được ?

Hoàng Phi Bằng dồn dập những câu hỏi, Từ Đồng không thể nào trả lời cùng lúc được vì sợ mọi bí ẩm bị địch khám phá, nếu không trả lời khó mà tránh được địch hay thù. Từ Đồng khéo léo dùng lời nói :

― Những câu hỏi vừa rồi tại hạ có thể trả lời thỏa đáng, nhưng phải biết danh thánh của các hạ là ai đã.

Hoàng Phi Bằng nghiêm nghị tự giới thiệu :

― Tốt lắm, tại hạ họ Hoàng tên Phi Bằng người ở xứ Cửu Chân, Nam Việt. Cũng nói thẳng rằng chính thanh kiếm này của tại hạ tặng cho đại huynh Mã Tử Di, trong sống kiếm gần chuôi có tên của tại hạ.

Từ Đồng toát mồ hôi hột, cũng may gặp được chủ thanh kiếm, đáp :

― Từ Đồng xin khấu kiến Hoàng Thúc Thúc, Gia gia của Từ Đồng chính là Mã Tử Di, ngày xưa kết nghĩa huynh đệ với Thúc Thúc tại chiến trường biên giới Ly Bộ, Gia gia tặng ngọc Thanh Thanh gia bảo, còn Thúc Thúc tặng thanh kiếm gia truyền. Người còn nói thanh kiếm này chỉ có Thúc Thúc mới sử dụng được mà thôi, ngoài ra không có kẻ thứ hai.

Hoàng Phi Bằng chưa tin lời nói của Từ Đồng, nhưng tin về phương diện công lực hỏa hầu do Mã Tử Di truyền thụ, tuy còn non kém hơn cha, chàng hỏi lại :

― Để tránh mắt người, tại hạ cùng các hạ xuất vài hư chiêu rồi đi xa nơi này để nói chuyện riêng.

Cả hai phi thân vào cánh rừng bên phải, Hoàng Phi Bằng hỏi tiếp :

― Vậy các hạ là người con trưởng của đại huynh, tên thực là Mã Từ Đồng có phải không ?

Từ Đồng quỳ xuống đất, đôi tay để trước ngực thi lễ :

― Thưa, Thúc Thúc đúng thế, nguyên nhân thay đổi họ tên là để tránh tru di tam tộc họ Mã, lúc nhỏ Gia gia đưa Mã Từ Đồng đến Kiến Nghiệp là để đổi họ tên, đến nay Từ Đồng lập gia đình sinh được ba con trai, khai lại họ Mã.

Hoàng Phi Bằng hiểu ý cười rồi nói :

― Lúc trước mỗ hiểu chí lực của Mã huynh cũng là một kỳ tài, hy vọng Tề quốc có ngày phục hồi. Chàng hỏi tiếp:– Mã huynh hiện nay sức khoẻ thế nào và đang ở đâu ?

Từ Đồng nghe người đối diện chú ý về sức khỏe của Gia gia mình, lòng động tình đáp :

― Thưa, Thúc Thúc, sức khoẻ của Gia gia rất tốt, hiện nay đang tụ binh dựng lại cờ trống khởi nghiệp ở Tề Quốc.

Sau một hồi ve vuốt thanh kiếm Hoàng Phi Bằng cười nói :

― Tốt lắm, chí khí anh hùng tìm về cổ quốc, cũng như con kiến còn biết tìm cây lớn làm tổ, tại hạ gửi lời thăm Gia gia nhé ?

Mã Từ Đồng cũng chưa tin Hoàng Phi Bằng, hai nữa cũng muốn biết giá trị viên ngọc hô Mã, vội hỏi :

― Thưa, Thúc Thúc, gia bảo họ Mã chỉ có hai viên Ngọc Thanh Thanh. Từ Đồng giữ một viên ngọc, nếu hai viên ngọc gặp nhau thì sáng rực rỡ, Thúc Thúc có đem theo viên ngọc ấy không ?

Hoàng Phi Bằng cũng hiếu kỳ, muốn biết giá trị Ngọc Thanh Thanh, chàng chấp nhận yêu cầu, đáp :

― Tại hạ có mang theo vật kỷ niệm vì nó là ân oán giang hồ một chữ "Nghĩa".

Từ Đồng thấy ngọc như thấy họ Mã, đôi dòng lệ chảy, khóc thành tiếng, còn Hoàng Phi Bằng thì thấy hai viên ngọc gặp nhau sáng rực rỡ đúng như lời của Từ Đồng nói. Hoàng Phi Bằng cảm động bằng tấm lòng nói :

― Hiền điệt, mỗ có nhả ý trao lại viên ngọc này về cố gia họ Mã.

Từ Đồng tiếp nhận, cúi đầu ba gật thay cho ba lạy. Từ Đồng suy nghĩ trong trận chiến này rất khó sử hỏi :

― Thưa Thúc Thúc, ngay bây giờ sử trí thế nào để binh mã tướng hai bên lui quân an toàn ?

Hoàng Phi Bằng không chút nghĩ ngợi, thò tay vào bọc lấy ra một chiếc bình ngọc, mở nút đổ ra một viên thuốc bọc xáp màu xám đưa cho Từ Đồng và nói :

― Được, mỗ đánh hiền điệt trúng thương chạy về trận, có vậy mới tránh được mắt người, mỗ búng vào một viên "Thanh Long đơn" để giữ mạng, còn đây là tiên đơn "Hạc thảo đơn" sau năm ngày uống vào thì vết thương lành. Nhờ hiền điệt về nói lại với Mã đại huynh, khi nào cần đến mỗ thì đến những tửu lầu tại Động Đình hồ, làm dấu hiệu HP trên cửa là sau năm ngày có mỗ xuất hiện.

Từ Đồng bị thương chạy về phòng ngư quân binh Hán, được binh mã đón đưa vào trại, tướng Trang Tú Cảnh xuất binh nghinh chiến. Từ lúc xuất trận đến giờ này Cần Lĩnh binh án binh bất động chưa tham chiến.

Hoàng Phi Bằng đứng thẳng người truyền lệnh :

― Quý huynh đệ Cần Lĩnh Nam khởi binh tiến vào doanh trại mà diệt địch.

Tiếng hò reo vùng dậy cả một góc trời "tiến lên, tiến lên" quân binh Hán hoảng sợ không kịp định thần vì hai trận vừa rồi quân Hán bị tan rã, xác chết chồng chất vô số, xem ra xuất trận nhân hải không còn giá trị, quân Hán đành phải lui binh về hồ Bành Lải bên kian Dương Tử Giang để bảo vệ lực lượng.
Huỳnh Tâm 
E–mail tác giả: nhanai@online.fr

Hồi 18
Trang sử xưa ghi chép dòng Lạc Long

— Một Phương Trời Bách Việt, có tất cả 20 chương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét